Cơ hội nào cho các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường láng giềng Lào

Cơ hội nào cho các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường láng giềng Lào

 Do có biên giới đất liền chung dài, quan hệ thương mại Việt Nam và Lào mang tính truyền thống bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau và ngày càng được Đảng, Nhà nước và Chính phủ hai Bên luôn quan tâm phát triển. Kim ngạch thương mại luôn tăng trưởng trên dưới 20% trong giai đoạn 2008 – 2015. Về đầu tư, Việt Nam hiện là một trong những nhà đầu tư hàng đầu trong số các nước đầu tư tại Lào với tổng số vốn đầu tư tích lũy vào khoảng trên 5 tỷ USD tại hơn 270 dự án, đa dạng về ngành nghề và trải dài trên nhiều địa bàn khác nhau của Lào. Hai nước Việt Nam và Lào hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Quan hệ thương mại Việt Nam-Lào tuy có phát triển, hai Bên dành cho nhau những ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa được sản xuất từ mỗi nước khi nhập khẩu vào nhau, thỏa thuận tạo điều kiện cho người, hàng hóa và phương tiện của hai nước qua lại biên giới, nhưng vẫn chưa tương xứng với quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt.

Từ năm 2011 đến nay, kim ngạch thương mại hai chiều Việt -Lào tăng mạnh. Năm 2011 đạt 734,1 triệu USD, tăng 49,8% so với năm 2010. Năm 2012, con số này đạt 866,1 triệu USD tăng 18% so với năm 2011. Năm 2013 đạt 1.126 triệu USD tăng 30% so với năm 2012. 9 tháng đầu năm 2014, con số đạt 964 triệu USD tăng 32% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch thương mại hai nước đạt 1,5 tỷ USD năm 2014 và đạt 2 tỷ USD năm 2015.

Tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào trong thời gian gần đây

Từ những năm 2003 đến nay, đã có nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam đầu tư vào Lào trên tất cả các lĩnh vực như tài chính ngân hàng, thủy điện, khai thác khoáng sản, nông lâm nghiệp, viễn thông, dịch vụ thương mại, bất động sản, v.v… Điển hình như các dự án của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Tổng công ty Cao su Việt Nam, Ngân hàng BIDV, Tập đoàn Than khoáng sản, v.v… Các doanh nghiệp này đã góp phần phát triển kinh tế Lào, là hạt nhân trong việc thu hút các công ty nhỏ và vừa của Việt Nam đầu tư vào Lào.

Việt Nam và Lào hợp tác đầu tư và phát triển
Việt Nam và Lào hợp tác đầu tư và phát triển

Nội dung của Hiệp định tự do song phương Việt – Lào đó là sau khi ký kết sẽ có hơn 95% mặt hàng sẽ được xóa bỏ thuế quan. Các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi như thế nào từ Hiệp định này

Tuy kim ngạch thương mại hai chiều Việt -Lào tăng mạnh, nhưng thị phần hàng hóa Việt Nam tại Lào còn rất khiêm tốn, chưa bằng 20% trị giá hàng hóa Lào nhập khẩu từ các nước. Nhịp độ tăng trưởng XK của Việt Nam sang Lào cũng không ổn định, năm 2011 tăng 38,1%, năm 2012 tăng 53,7% nhưng năm 2013 chỉ tăng có 8,7% và 9 tháng năm 2014 giảm 2,6%. Nguyên nhân chủ yếu là do việc quản lý chặt chẽ phương tiện vận tải chở quá tải qui định làm tăng giá cước vận chuyển. Chính phủ Lào thực hiện các biện pháp nhằm tăng thu cho ngân sách, tiết kiệm chi tiêu, dừng thực hiện một số các dự án đầu tư công… làm nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng về vật liệu xây dựng, sắt thép giảm nhiều.

Ngoài ra, do hạ tầng giao thông, thủ tục hành chính tại các cửa khẩu giữa hai nước chưa thật sự tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa. Hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam tại Lào cũng chưa được các DN trong nước đầu tư thiết lập nên khó cạnh tranh được với hàng hóa của Thái Lan và Trung Quốc.

Hiệp định Thương mại mới 2015 đã tích hợp toàn bộ nội dung của Bản Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ nhân Dân Lào về các mặt hàng được áp dụng ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu Việt – Lào ký ngày 01 tháng 12 năm 2011, gia hạn đến hết năm 2015, theo đó các ưu đãi của hai nước giành cho nhau sẽ được hưởng một cách ổn định (5 năm nếu không có những thông báo khác từ các Bên). Ngoài ra, Hai Bên còn kí kết Hiệp định Thương mại Biên giới mà tại đó các ưu đãi riêng có giữa hai nước, đặc biệt đối với hàng hóa được sản xuất ở vùng biên giới, thương nhân biên giới, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất hàng hóa tại vùng biên giới Lào. Các ưu đãi đối với hàng hóa, thương nhân, nhà đầu tư được qui định chi tiết tại Hiệp định thương mại biên giới.

Người dân Lào có ưa chuộng những sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam phân phối tại Lào không

 Đến nay đã có gần 800 DN, thương nhân Việt Nam tại Lào được cấp phép hoạt động. Các tổ chức của cộng đồng người Việt tại Lào như Hội DN Việt Nam đầu tư tại Lào, tổng hội, thành/tỉnh hội người Việt Nam đã được thành lập hầu hết trên các địa phương cũng là cầu nối tốt cho các DN trong nước đến với thị trường Lào và vươn tới các nước láng giềng của Lào.

Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Lào là xăng dầu, sắt thép, phương tiện vận tải, phụ tùng, máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng, than đá, rau quả, hàng dệt may, dây điện và dây cáp điện. Trong đó, nổi bật là xăng dầu và sắt thép, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Lào, năm 2011 là 42,4%, năm 2012 là 49%, năm 2013 là 45,58%, 9 tháng năm 2014 là 41,51%. Hàng nhập khẩu từ Lào chủ yếu là gỗ và các sản phẩm gỗ, chiếm khoảng 65-70% kim ngạch Việt Nam nhập khẩu từ Lào. Phải nói rằng, người tiêu dùng Lào rất ưa chuộng hàng hóa Việt Nam, chất lượng mẫu mã không thua kém gì hàng hóa của Thái Lan, Trung Quốc. Tuy nhiên, một số mặt hàng chưa được chú trọng in ấn thông tin về hàng hóa trên bao bì.

Doanh nghiệp Việt Nam tại Lào đang gặp phải những khó khăn, hạn chế gì, và giải pháp khắc phục những khó khăn đó

 Hiệp định thương mại song phương và Hiệp định thương mại biên giới Việt Nam-Lào kí năm 2015 đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp ổn định, lành mạnh, xóa bỏ thuế quan và rào cản. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều cản trở, khó khăn như kết nối giao thông giữa hai nước chưa thực sự thuận lợi, thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu còn mất nhiều thời gian, phiền hà, các doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư tại Lào khó tiếp cận với các nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại, v.v…

Kinh tế Lào tuy đã phát triển mạnh, GDP tăng ổn định trong thời gian dài nhưng nền kinh tế còn nhỏ, kinh tế ở một số địa phương vùng núi vẫn mang tính tự cung tự cấp, lạc hậu, cơ sở hạ tầng giao thông kém phát triển. Luật pháp, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập chưa được sửa đổi kịp thời.
Thứ hai, các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, kết nối giao thông hai nước chưa phát triển. Vận chuyển hàng hóa qua lại biên giới còn mất nhiều thời gian, tốn kém cho doanh nghiệp.
Thứ ba, mạng lưới phân phối hàng hoá Việt Nam tại Lào chưa được quan tâm thiết lập như chợ, cửa hàng, siêu thị. Điều này thể hiện tính liên doanh liên kết giữa DN sản xuất với thương mại, giữa các DN thương mại với nhau còn hạn chế, chưa phù hợp với một thị trường qui mô nhỏ, phân tán.

Muốn tận dụng được cơ hội, DN cần chủ động khai thác lợi thế so sánh (đặc biệt là các DN ở các tỉnh có chung biên giới với Lào), thay đổi tư duy, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã, bao bì. Các DN XK, đầu tư sang Lào cần liên doanh, liên kết với các DN Việt Nam đang đầu tư tại Lào, các DN Việt kiều. Đồng thời, tích cực tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu hàng hóa chất lượng, mẫu mã, bao bì, tạo ấn tượng tốt cho người tiêu dùng Lào đối với hàng hóa Việt Nam.